Sản xuất và chế biến quặng Titan ở việt nam (Phần II)


Mặc dù trữ lượng quặng titan hiện nay còn tương đối lớn song trữ lượng các mỏ có chất lượng quặng tốt không còn nhiều, Theo ý kiến của Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam, trước mắt chúng ta nên hạn chế dần việc xuất khẩu quặng titan ở các vùng mỏ Hà Tĩnh và Bình Thuận để tập trung nguyên liệu cho việc chế biến thành bột titan đioxit trong nước.

Từ nay đến năm 2006, chúng ta cần tập trung đầu tư và xây dựng một nhà máy sản xuất bột titan đioxit có công suất 5.000 tấn/ năm với công nghệ hiện đại bằng hình thức hợp tác liên doanh với một số đối tác từ phía Mỹ. Vị trí đặt nhà máy có thể là ở tỉnh Bình Thuận với nguồn nguyên liệu là quặng titan khai thác ở Bình Thuận và Hà Tĩnh.

Sau năm 2006, khi nhà máy liên doanh với Mỹ đi vào sản xuất ổn định, chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, căn cứ vào nhu cầu thị trường chúng ta sẽ xem xét đầu tư mở rộng để đạt công suất 10.000 tấn/ năm và sau đó xem xét để đầu tư thêm ở Hà Tĩnh một nhà máy công suất 2 vạn tấn/ năm.

Theo ý kiến của GS, TS Phùng Viết Ngư – Trường đại học Bách Khoa Hà Nội, quặng titan là tài nguyên quý giá, nhưng chưa có cơ quan nào có chức năng, nhiệm vụ vạch ra chiến lược và kế hoạch phát triển toàn diện, lâu dài cho ngành khai thác và chế biến loại quặng này. Có Hiệp hội titan là cần thiết nhưng chỉ với nhiệm vụ là liên kết giúp nhau trong 3 khâu “Khoa học công nghệ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm” thì chưa đủ.

Phương hướng phát triển ngành công nghiệp này trong thời gian tới là hoàn thiện và hiện đại hóa công nghệ khai tuyển, nâng cao chất lượng ilmenit, ziricon… từng bước xây dựng các cơ sở chế biến ilmenit và các khoáng sản cộng sinh thành các sản phẩm có giá trị cao như rutil nhân tạo, xỉ titan, ziricon sạch, bột màu TiO2, hạn chế bán các sản phẩm thô không chế biến..

Ilmenit (FeTiO3) là khoáng vật quặng chứa 52 – 54% TiO2, trong đó nguyên tố: Fe = 36,8%, Ti = 31,6% và O = 31,6%. Còn rutil (TiO2) là khoáng vật quặng mầu nâu đỏ tới đen, tỷ trọng 4,2, độ cứng 6-6,5 chứa 98% TiO2. Titan và rutil là nguyên liệu chính để chế tạo ra bột titan đioxit dùng trong sản xuất giấy, sơn, nhựa, cao su, mực, mỹ phẩm, xà phòng và dược phẩm.

Titan đioxit là loại bột màu trắng hàng đầu, có chỉ số chiết suất cao (2,55 đến 2,7), tạo độ chắn sáng tốt, có độ phản xạ tốt (tạo độ chói và sáng), có tính không độc hại và chịu nhiệt tốt, dùng trong sản xuất giấy, sơn, nhựa, cao su, đồ gốm, dệt và mỹ phẩm. Có hai cấp chính là – rutil có tính mài mòn, chiết suất, tỷ trọng cao, có độ bền hoá học, sử dụng làm sơn bên ngoài cửa, nhựa, mực viết, mỹ phẩm, và anatas có độ mài mòn kém hơn, màu xanh hơn, sử dụng trong sản xuất sơn cửa, giấy, dệt, mủ cao su, xà phòng và dược phẩm.

TiO2 không nguyên chất được sử dụng trong sản xuất đồ gốm và gốm cách điện, men và nước men, thuỷ tinh, sợi thuỷ tinh và que hàn. TiO2 dùng để sản xuất carbur titan (công cụ để cắt).

Rutil, rutil tổng hợp, hoặc xỉ titan có hàm lượng cao dùng để sản xuất titan kim loại và hợp kim.

Kim loại titan không độc, có chỉ số cường độ trên trọng lượng cao, nhiệt nóng chảy cao, khó bị ăn mòn, dẫn điện tốt. Hợp kim titan có độ bền vững gấp 3 lần so với hợp kim nhôm và 5 lần so với hợp kim magnesi, có khả năng chống gỉ cao không kém platin, song lại nhẹ bằng một nửa thép, làm giảm trọng lượng các kết cấu. Hợp kim titan được dùng nhiều trong các ngành chế tạo máy bay, vỏ xe tăng, bệ súng cối, tên lửa, đạn tự điều khiển, tầu chiến, thiết bị và vật dùng không gỉ trong các nhà máy chế biến hoá chất, chế biến thực phẩm, máy bơm nước, vận tải đường sắt, kỹ thuật điện và y học. Ngoài ra, đioxit titan còn được sử dụng để chế biến sơn, men, làm que hàn…

II. Cơ sở lý thuyết:

Xuất phát từ quặng Ilmenit (3,5,7) , Rutin qua tuyển trọng lực sau đó phân ly bằng từ tính và tĩnh điện cuối cùng ta sẽ thu được tinh quặng rutin chứa 95-97%TiO2 còn lại là sắt oxyt (0,5-2%) , Si(0,5-1%), Cr(0,1-0,4%), ..Từ Ilmenit thường chứa 45-50% TiO2, (35-40%) sắt oxyt và một lượng lớn oxyt của Sillic, nhôm , mangan , crom, vanadi, canxi.Tinh quặng Ilmenit giàu nhất thường chứa tạp chất là arizonit Fe2O3.3TiO2.Do dặc điểm quặng ở nước ta chủ yếu ở dưới dạng sa khoáng nên công việc tuyển quặng hết sức đơn giản và chi phí thấp so với quặng của các nước khác trên thế giới , hơn nữa quặng của nước ta được đánh giá là giàu và có trữ lượng lớn lại kèm theo nhiều kim loại quý trong quặng nên có giá trị rất lớn.

(Phần II – Còn tiếp…)

Tổng hợp và giới thiệu bởi Trương Xuân Tiệp

Kỹ thuật Gang thép K48- ĐHBKHN.

Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó <!– document.write( ” ); //–> Bài viết có tham khảo tài liệu từ các source sau:

– “TIỀM NĂNG VÀ HƯỚNG KHAI THÁC , CHẾ BIẾN QUẶNG TITAN Ở VIỆT NAM” của tác giả Hồng Liên đăng trên tạp chí công nghiệp hóa chất số 2 năm 2004.

– VỀ VẤN ĐỀ ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ KINH TẾ TỔNG HỢP MỎ TITAN SA KHOÁNG: LẤY VÍ DỤ TẠI MỎ GÒ ĐÌNH, BÌNH THUẬN

– ĐỖ HỮU TÙNG (Trường Đại học Mỏ – Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội)

– LÝ THUYẾT CÁC QUÁ TRÌNH LUYỆN KIM –HỎA LUYỆN (TẬP 2) – PHÙNG VIẾT NGƯ , PHẠM KIM ĐĨNH , NGUYỄN KIM THIẾT.

Nguồn:luyenkim.net

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: